8/11/16

Hướng dẫn sử dụng gia vị trong các chế độ ăn giảm muối (giảm Natri)


Natri là một chất điện giải quan trọng có vai trò điều hòa áp lực thẩm thấu, cân bằng thể dịch và cân bằng acid – bazơ, có vai trò chính trong hoạt động điện sinh lý trong cơ, thần kinh và chống lại các yếu tố gây sức ép lên hệ thống tim mạch. Natri rất cần thiết trong quá trình vận chuyển tích cực các nguyên liệu chuyển hóa qua màng tế bào, trao đổi ion của tế bào. Nhu cầu Natri của cơ thể trẻ từ trên 10 tuổi và người trưởng thành dưới 50 tuổi là 1500 mg/ngày. Người cao tuổi nhu cầu giảm đi. Natri được đào thải qua mồ hôi, nước tiểu, phân và các dịch tiết khác của cơ thể.

Đối với khẩu phần ăn được chế biến bằng thực phẩm tươi, không sử dụng thực phẩm có bảo quản bằng muối hoặc chế biến sẵn; không cho thêm muối, mắm, bột gia vị… trong qua trình chế biến hoặc sử dụng; khẩu phần này sẽ có tối đa là 1 g muối/ngày (tương đương 400 mg Natri). Do đó nguồn Natri đưa vào cơ thể chủ yếu từ muối ăn và các loại gia vị chứa muối.

Muối ăn (NaCl) có vị mặn và là một trong những gia vị cơ bản. Trong ẩm thực, muối ăn được sử dụng là chất bảo quản cũng như là gia vị. Muối ăn là tối cần thiết cho sự sống, là một gia vị không thể thiếu nhưng việc sử dụng quá mức có thể làm tăng độ nguy hiểm của các vấn đề sức khỏe. Nhu cầu khuyến nghị hàng ngày là 6 g muối ăn cho người trưởng thành. Tuy nhiên hiện nay, theo thói quen người dân vẫn sử dụng số lượng lớn hơn so với nhu cầu (6 – 10 g/ngày). Với người bình thường, khi ăn thừa, Natri sẽ đào thải qua nước tiểu hay mồ hôi và vẫn giữ được cân bằng về Natri trong cơ thể. Tuy nhiên với một số bệnh lý như tim mạch, tăng huyết áp, bệnh thận, suy tim…; thừa Natri sẽ làm bệnh nặng lên, gây biến chứng nguy hiểm. Do vậy, trong những trường hợp này, chế độ ăn bệnh lý cần phải hạn chế Natri.

Một số thực phẩm có chứa muối hoặc Natri cần quan tâm khi sử dụng bao gồm:
1. Nước mắm: Thường nước mắm chuẩn có độ muối là 20% để giữ cho mắm không bị thối, hỏng khi để lâu. Vì vậy, 1 thìa nước mắm 5 ml chứa lượng Natri tương đương 1 g muối.

2. Bột gia vị: Các loại bột nêm, bột gia vị thành phần gồm muối, mì chính và các phụ gia khác. Thông thường, 1,5 g bột gia vị tương đương với 1 g muối.

3. Bột ngọt/mì chính: Trước đây, bột ngọt được coi là chất ảnh hưởng đến sức khỏe và hạn chế sử dụng trong chế biến món ăn. Hiện nay, nhiều tổ chức y tế và sức khỏe trên thế giới (WHO, FDA…) chứng nhận bột ngọt an toàn, có liều dùng hàng ngày không xác định. Thực tế tại Việt Nam cho thấy nhiều năm qua, bột ngọt đã được sử dụng phổ biến trong chế biến món ăn.

Xét về cấu trúc, hàm lượng Natri trong bột ngọt bằng khoảng 1/3 hàm lượng Natri trong muối ăn (12% so với 39%). Đồng thời trong chế biến, bột ngọt được sử dụng ở lượng nhỏ so với muối, do vậy nhìn chung, bột ngọt đóng góp chỉ từ 1/20 đến 1/30 lượng Natri vào khẩu phần so với muối. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cho thấy bột ngọt có thể gia tăng vị ngon của những thực phẩm ít muối. Cụ thể, bằng cách sử dụng bột ngọt, có thể giảm tới 50% muối và 30% lượng Natri ăn vào mà vẫn giữ nguyên mức độ chấp nhận thực phẩm.

Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới bắt đầu khuyến nghị sử dụng bột ngọt như một cách giúp giảm tiêu thụ muối trong khẩu phần ăn. Năm 2010 tại Mỹ, Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ đã thành lập Ủy ban nghiên cứu về những chiến lược giúp giảm muối tiêu thụ trong khẩu phần ăn. Trong báo cáo của Ủy ban này, bột ngọt được nhắc đến như một thành phần có thể giúp “giữ nguyên mức độ chấp nhận thực phẩm có hàm lượng natri thấp khi được sử dụng để thay thế một phần muối đưa vào thực phẩm”. Trong những trường hợp này, lượng Natri đưa vào thực phẩm qua bột ngọt ít hơn lượng được loại bỏ qua muối.

Như vậy, có thể sử dụng bột ngọt ở liều lượng hợp lý (trung bình khoảng 0,4 – 0,5%) để tăng vị ngon của những thực phẩm ít muối và hỗ trợ bệnh nhân duy trì chế độ ăn điều trị.

Xem bài viết...
15/9/16

Ăn ớt cay để đốt calori và đốt mỡ


Thêm ớt cay vào bữa ăn lành mạnh không là bí quyết gì ghê gớm, nhưng nó có thể giúp bạn đốt cháy một ít calori và  mỡ, theo một nghiên cứu năm 2010.

Các nhà nghiên cứu từ Đại học California ở Los Angeles (UCLA) đã thử nghiệm một hợp chất có liên quan đến capsaicin trong ớt để xem nó có thể giúp giảm cân nhanh cho người ăn kiêng hay không. Hợp chất đó được gọi là dihydrocapsiate hoặc DCT, nó không cay nóng như ớt đỏ.

Họ muốn xem liệu hợp chất tương tự trong ớt này, bằng cách làm nóng cơ thể, có thể chuyển hóa calori và đốt mỡ tốt hơn không.

"DCT giúp tăng lượng calo bị đốt cháy sau bữa ăn thử nghiệm, '' Tiến sĩ bác sĩ David Heber - tác giả nghiên cứu, giám đốc sáng lập của Trung tâm UCLA về dinh dưỡng con người, đã nói như thế. Tuy nhiên, kết quả khá khiêm tốn, khoảng 100 calo một ngày cho một người phụ nữ 50kg và 200 calo cho một người đàn ông 90kg, quá trình đốt mỡ cũng tăng lên một chút, ông nói.

Phát hiện này đã được trình bày tại cuộc họp Sinh học Thực nghiệm hàng năm vào năm 2010.

Những nghiên cứu khác sau đó cho thấy ớt có thể thúc đẩy chuyển hóa hay làm giảm sự ngon miệng.

Nghiên cứu tác dụng giảm cân của ớt


Mặc dù DCT có cấu trúc liên quan đến capsaicin từ ớt cay, nhưng nó không cay – bác sĩ Amy Lee đại diện cho các nghiên sinh trường đại học California Los Angeles để trình bày phát hiện này, đã nói

Các nhà nghiên cứu bắt đầu nghiên cứu với 51 người đàn ông và phụ nữ nhưng kết thúc chỉ với 33 người sau khi lọc bớt, bác sĩ Lee nói. Tất cả đều béo phì và tuân theo chế độ ăn thay thế bằng chất lỏng cung cấp 800 calo mỗi ngày. Việc cho dùng calori thấp là lý do chính để sàng lọc. cô ta nói.

Những người ăn kiêng được chia ngẫu nhiên làm 3 nhóm, nhóm dùng giả dược, nhóm dùng 3g và nhóm dùng 9g DCT ở dạng viên nang.

Từ lúc bắt đầu nghiên cứu và 4 tuần sau đó, các nhà nghiên cứu đo tốc độ trao đổi chất và năng lượng tiêu hao của người ăn kiêng (hay sự sinh nhiệt) sau bữa ăn thử nghiệm 400 calori dạng lỏng.

Những người sử dụng viên nang 9g đã có sự tăng năng lượng tiêu hao hay sinh nhiệt và tăng đốt cháy mỡ so với những người sử dụng giả dược, bác sĩ Lee nói.

Ý kiến thứ hai về tác dụng giảm cân của ớt


“Cần có những nghiên cứu xa hơn như là những sản phẩm giảm cân tiềm năng”, Tiến sĩ dinh dưỡng Lauri Byerley nói, một giáo sư nghiên cứu tại đại học Trung tâm Khoa học Sức khỏe ở bang Louisiana, New Orleans, người chuyên đánh giá các kết quả nghiên cứu cho WebMD.

Bà chỉ ra rằng có quá nhiều người trong nghiên cứu bị béo phì, chế độ ăn lỏng cùng với lượng calori rất thấp được kiểm soát bởi các chuyên gia chăm sóc sức khỏe.

Do đó kết quả có thể khác nhau cho những người ăn kiêng ví dụ đối với những người ăn kiêng bằng cách cắt bớt khẩu phần chất béo.

Những người có chế độ ăn lỏng thường giảm cân nhanh chóng, một phần vì họ có quá nhiều trọng lượng để mất, do đó đối với những người ăn kiêng muốn giảm cân chậm sẽ không có lợi ích nhiều từ DCT, cô ấy nói.

“Chúng ta chưa thể kết luận rằng cách tiếp cận này sẽ hữu ích cho những người tìm kiếm cách giảm cân chậm, bởi vì họ có ít trọng lượng để giảm, Byerly nói với WebMD.

Mặc dù vậy, cô đồng ý với Herber rằng DCT không gây hại, nhưng nó thích hợp với những người thích gia vị, Byerly nói.


Lời khuyên cho những người ăn kiêng


Loại DCT được dùng trong nghiên cứu không có mặt trên thị trường, Nhưng những người muốn có tác dụng của DCT có thể thêm ớt cay vào phần ăn của mình, Herber nói.

Đây là một cách để đốt calori, nó không phải là chiến lược chính mà chỉ là phần hỗ trợ thêm. “Tôi xếp nó cùng nhóm với trà xanh và caffeine”, Heber nói.

Tuy nhiên, ông không thấy tác dụng phụ của DCT, ông nói, “nó không được hấp thu vào cơ thể. Nó bị thải trừ ra ngoài cơ thể qua đường ruột”.

Xem bài viết...
31/8/16

Cách rửa rau củ an toàn


Chế độ ăn nhiều rau củ rất tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, bạn cần biết cách rửa rau củ cho sạch sẽ trước khi chế biến để đảm bảo an toàn sức khỏe.

Việc đầu tiên là phải chọn rau củ thật tươi, không bị thâm đen, héo úa hay nấm mốc. Nếu mua rau củ đã cắt sãn, chỉ nên mua rau củ được giữ trong ngăn mát tủ lạnh hay để trên ngăn đá ở siêu thị.

Khi mua về, bạn cất ngay rau củ vào tủ lạnh để bảo quản. Chỉ mang ra rửa trước khi nấu, vì rau củ đã rửa nếu để lâu trong tủ lạnh thì vi khuẩn dễ phát triển làm hư hỏng rau.

Rửa tay với xà bông và nước ấm trước và ngay sau khi rửa rau củ tươi.

Rửa sạch mọi thứ rau củ trước khi chế biến, kể cả rau củ đã cắt sẵn, rau củ sạch tự trồng hoặc mua, rau củ gọt vỏ, do đất cát và vi khuẩn trên vỏ dễ nhiễm vào dao và lây sang phần ruột.

Nên rửa rau dưới vòi nước sạch, sử dụng nước lạnh tốt hơn nước ấm. Dùng tay hoặc bàn chải để cọ rửa, tránh làm dập nát rau củ.

Không sử dụng xà bông, chất tẩy rửa và các hóa chất khác để tránh các chất này ngấm vào rau củ, gây nguy hiểm cho sức khỏe. Ngoài ra, cần lưu ý nước rửa sạch bề mặt rau củ chứ không khử hết hóa chất độc hại trong rau củ, vì vậy vẫn phải rửa rau kỹ với nhiều nước.

Để ráo hoặc lau khô rau củ trước khi sử dụng để tránh vi khuẩn còn sót lại sau khi rửa.

Do mức độ nhiễm khuẩn ở các loại rau củ khác nhau, khi rửa cần lưu ý phân biệt để rửa rau dễ dàng và sạch sẽ hơn.

Rau lá: Là loại rau dễ bị ô nhiễm nhất và có nguy cơ mang mầm bệnh cao. Vì vậy sau khi nhặt sạch, cắt bỏ rễ và lá úa, nên ngâm rau trong nước vo gạo, nước muối nhạt hoặc nước pha giấm để loại trừ vi khuẩn. Sau đó đem rau rửa lại trong chậu thêm khoảng 2-3 lần nữa. Để ráo nước hoặc lau khô.

Rau quả trên cao: Là những loại cây leo trên cao hoặc trên giàn như cà chua, bầu, bí, mướp, khổ qua... nên ít bị dính phân khi tưới, vì vậy cũng ít bị nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, để tránh nguy cơ bị nhiễm thuốc trừ sâu, vẫn phải rửa dưới vòi nước và ngâm nước muối (nồng độ 5%) hoặc nước giấm nếu ăn ngay. Nếu không ăn ngay thì bảo quản ở tủ lạnh, không cần rửa nước muối hoặc giấm vì sẽ làm rau quả dễ bị hư.

Củ: Những loại như cà rốt, khoai tây, củ cải... tương đối an toàn nên chỉ cần cọ rửa sạch bên ngoài trước khi gọt vỏ mà không cần ngâm nước muối hay giấm. Sau khi gọt vỏ xong, rửa sạch dao và củ một lần nữa rồi mới cắt để đảm bảo sạch khuẩn.

Xem bài viết...
26/8/16

Dinh dưỡng cho mái tóc đẹp


“Cái răng cái tóc là gốc con người”, ông bà ta dạy vậy. Bạn sẽ không bao giờ có cảm giác thoải mái nếu luôn cảm thấy có vấn đề bất ổn về mái tóc. Một mái tóc đẹp cũng là biểu hiện tình trạng sức khỏe cơ thể.

Theo âm ngữ Nam bộ gốc hay góc cũng có lý trong trường hợp này cả. Một chế độ ăn đủ dinh dưỡng là bước đầu tiên cho bạn vẻ đẹp của tóc. Hiểu rõ tình trạng của mái tóc, bạn sẽ biết phục hồi bằng cách bổ sung những loại thực phẩm có chứa vitamin và khoáng chất phù hợp. Tuy nhiên, ăn đúng cách chính là chìa khóa quyết định hiệu quả của chế độ ăn uống khoa học và duy trì sự khỏe khoắn và sức sống lâu dài cho tóc, bởi nó giúp cho quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng vào biểu bì tóc, đem lại cho tóc vẻ bóng mượt và sáng đẹp.

Xin giới thiệu với bạn một số nguyên tắc ăn uống đã được các nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh: Chế độ ăn uống hợp lý là cội nguồn của vẻ đẹp lâu dài cho mái tóc, ăn uống khoa học, bạn còn có thể tránh được việc lạm dụng các hóa chất có nguy cơ gây hại cho tóc và sức khỏe. Thức ăn giàu sinh tố tự nhiên từ rau xanh và hoa quả cung cấp các chất cần thiết cho sự phát triển của tóc. Các loại rau như cải xanh, củ cải đường, bí đao, súp lơ xanh, cà rốt… và các loại rau thơm như lá bạc hà xanh, rau húng đều là các nguồn cung cấp dinh dưỡng lý tưởng cho mái tóc của bạn. Rau tươi nên được thái nhỏ và nấu chín mềm để dễ tiêu hóa. Ngoài ra bạn nên thêm vào món rau một chút gia vị có lợi cho tóc như thì là, nghệ.

Bạn cũng nên thay đổi các loại rau khác nhau mỗi ngày để có được lượng dinh dưỡng phong phú đồng thời khiến món ăn ngon miệng hơn và chế độ ăn duy trì được lâu dài. Các loại hoa quả có tác dụng tốt cho tóc bao gồm các loại dâu tươi, cam quýt, dưa và nho. Hãy chọn loại quả đã chín đều, nhúng trong nước ấm trong khoảng 30 phút sau đó thêm vào thực đơn mỗi sáng của bạn để cung cấp thói quen dinh dưỡng cần thiết cho mái tóc. Nước dừa không chỉ là một loại thức uống ngon và bổ dưỡng, nó còn có khả năng cung cấp những chất dinh dưỡng tốt nhất cho tóc đồng thời có chứa một loại dầu ngăn chặn hiện tượng khô đi của tóc và da dầu. Thường xuyên uống sữa và ăn các sản phẩm chế biến từ bơ sữa. Sữa cung cấp nguồn dinh dưỡng không thể thiếu cho tóc. Sữa tươi nguyên kem, pho mát tươi và sữa chua nên được ăn thêm mỗi ngày để tóc được cung cấp lượng dinh dưỡng tối ưu. Tốt nhất sữa nên được đun qua rồi để lạnh đến một nhiệt độ nhất định trước khi đem ra dùng để tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng.

Không quên bổ sung các loại ngũ cốc. Nguồn dinh dưỡng đem lại từ các loại lương thực khô và các loại cây họ đậu vừa dễ hấp thụ và rất cần thiết cho mái tóc, đồng thời không làm tổn thương hệ tiêu hóa. Luân phiên các loại ngũ cốc khác nhau trong khẩu phần ăn của bạn, đồng thời kết hợp với các loại rau tươi, gia vị và hoa quả tươi, các sản phẩm từ bơ sữa… để có một “bữa tiệc” ngon miệng và thật phong phú mỗi ngày cho mái tóc đẹp và khỏe mạnh đầy sức sống. Đặc biệt măng tre và trái bưởi giúp cho tóc nhanh dài, mượt và mọc dày hơn rất nhiều, cho nên chế độ ăn trong tuần nên luôn có nó.

Xem bài viết...
20/6/16

Cân nặng và những vấn đề liên quan trong lâm sàng


Một số định nghĩa về cân nặng

Cân nặng: Là chỉ số kg (hay đơn vị khác) đo được khi đưa một người lên cân đo.

Cân nặng chuẩn, cân nặng lý tưởng: Là cân nặng nên có của một người để có được sức khỏe tốt nhất.

Cân nặng chuẩn: Standard Body Weight (SBW). Sử dụng phổ biến ở Nhật bản.
Công thức tính: SBW = Chiều cao (m) x chiều cao (m) x 22
Tôi  thích sử dụng chỉ số cân nặng chuẩn trên lâm sàng bởi tính chất đơn giản và sự tiện dụng của nó: Dễ nhớ, dễ dùng và tính rất nhanh.

Trong trường hợp bệnh nhân bị mất tay chân, cân nặng chuẩn cần trừ đi khối lượng phần cơ thể bị mất.

Cân nặng lý tưởng: Ideal Body Weight (IBW). Sử dụng phổ biến ở Châu Âu
Công thức tính:
Nam: IBW (kg) = 50 kg + 2.3 kg cho mỗi inch chiều cao trên 5 feet.
Nữ : IBW (kg) = 45.5 kg + 2.3 kg cho mỗi inch chiều cao trên 5 feet.
Công thức này chỉ nên tham khảo cho biết. Nó nhiều thông số tính toán, khó nhớ và phải chuyển đổi đơn vị inch và feet sang centimét hoặc mét vì đơn vị inch và feee ít sử dụng ở Việt Nam.

Cân nặng thực tế: Là cân nặng của bệnh nhân sau khi loại bỏ các yếu tố khiến cân nặng của bệnh nhân tăng thêm (quần áo, phù, mang tay/chân giả...) hay giảm đi (mất chi). Sau đây là công thức tính cân nặng thực tế:

Khi bệnh nhân mặc quần áo:
- Đồ bệnh viện trừ 0,2 kg
- Đồ vải mỏng trừ 0,3 kg
- Quần tây trừ 0,5 kg
- Quần Jean trừ 0,8 kg

Khi bệnh nhân có phù
- Phù nhẹ trừ 1 kg
- Phù trung bình trừ 2 kg
- Phù nặng trừ 10 kg

Khi bệnh nhân có mang tay chân giả
- Có tay giả trừ 1 kg
- Có chân giả trừ 2 kg
- Nếu mang chân giả có cả đai lưng trừ 4,5 kg

Khi bệnh nhân bị mất chi: Dựa vào phần chi bị mất, ta tính được cân nặng thực tế dựa trên phần trăm cân nặng cơ thể đã đã qua bảng sau
Phần cơ thể mất % khối lượng
Toàn bộ tứ chi 50
Bàn tay 0.7
Cẳng tay + Bàn tay 2.3
Một phần cánh tay + cẳng tay + bàn tay 2.7
Toàn bộ tay 5
Bàn chân 1.5
Cẳng chân + bàn chân 5.9
Một phần đùi + cẳng chân + bàn chân 10.1
Toàn bộ chân 16
Osterkamp LK., Current perspective on assessment of human body proportions of relevance to amputees, J Am Diet Assoc. 1995;95:215-218.

Cách tính cân nặng

1. Sử dụng thiết bị đo cân nặng
Cân đứng: Được sử dụng khi bệnh nhân có thể đứng được, đơn giản chỉ cần đưa bệnh nhân đứng lên cân và xem kết quả.
Cân ngồi, cân nằm: Cân chuyên dụng được dùng khi bệnh nhân không thể đứng được. Bệnh nhân được đo cân nặng khi đang ngồi hoặc nằm trên vật chuyên chở (ghế, xe lăn hoặc băng ca...). Cân nặng của bệnh nhân được tính gián tiếp bằng cách trừ đi cân nặng của vật chuyên chở sau khi cân cả bệnh nhân và vật chuyên chở. Hoặc cân nặng của bệnh nhân cũng có thể tính trực tiếp bằng cách đưa vật chuyên chở lên cân trước sau đó thiết lập chỉ số đo của cân trở về 0 rồi mới đưa bệnh nhân lên vật chuyên chở.

2. Ước lượng cân nặng bằng mắt
Trong trường hợp không thể hay chưa thể đo cân nặng của bệnh nhân được, việc ước lượng cân nặng của bệnh nhân bằng mắt là cần thiết. Bạn hãy luyện tập kỹ năng này thường xuyên bằng cách ước lượng cân nặng của bệnh nhân mỗi ngày, sau đó đối chiếu với kết quả khi sau khi đưa bệnh nhân lên thiết bị đo cân nặng.

Chỉ cần sai số bằng 10kg hoặc thấp hơn là cũng phù hợp và có hiệu quả cho việc thiết lập kế hoạch điều trị ban đầu. Ngay cả các chuyên gia của nước ngoài cũng thường xuyên sử dụng và giới thiệu phương pháp này trong các cuộc tập huấn (có tôi tham dự). Bạn càng luyện tập nhiều, bạn sẽ càng tự tin hơn trong việc ước lượng cân nặng của bệnh nhân.

Sử dụng các chỉ số cân nặng trong lâm sàng

Cân nặng chuẩn: Được sử dụng để tính nhu cầu đạm ở bệnh nhân thiếu cân và tính nhu cầu năng lượng.
Cân nặng thực tế: Được sử dụng để tính nhu cầu đạm ở bệnh nhân thừa cân và tính nhu cầu nước.




Xem bài viết...

Bs. Nguyễn Văn Anh

Theo dõi qua

         

Gửi thắc mắc